Sáng Tác

REVIEW SÁCH-PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ

Với Phía Tây Không Có Gì Lạ, Erich Maria Remarque bỗng vụt sáng trên văn đàn như sao chổi nhưng ông hiện diện mãi nơi ấy mà không bao giờ tắt lịm.

Tác phẩm là câu chuyện của một chàng tân binh phải từ giã những năm tháng đẹp đẽ ngồi ghế giảng đường để bước vào cuộc chiến. Những người bạn học giờ trở thành đồng đội trải qua những tháng ngày chiến trường khốc liệt mà dù có đọc bao nhiêu tác phẩm khi còn là học sinh thì họ cũng không thể nào hình dung ra được chiến tranh lại mang gương mặt thần Chết khắc khổ đến vậy.

Những chàng trai chưa đến tuổi hai mươi chan chứa tình yêu vào sự sống, hăm hở chuẩn bị bước vào cuộc đời đầy rực rỡ với tâm hồn phơi phới tin yêu. Tất cả tương lai hứa hẹn ấy bỗng chốc tan tành vì cuộc chiến. Họ ra trận. Họ ngơ ngác như con thú non xa mẹ và rơi vào cạm bẫy giữa rừng già ẩn náu đầy nguy hiểm. Cái chết rình rập bủa vây lấy họ không từ một phút giây nào.

Những chàng trai chưa đến tuổi hai mươi ấy đã trở thành những ông già với tâm hồn cằn cỗi. Họ chẳng muốn cầm súng để chết. Họ chỉ muốn được trở về với ngôi nhà êm ấm và giảng đường. Những người lính nông dân chỉ muốn được về với vợ con và ruộng vườn.

Xuyên suốt tác phẩm ngoài bóng tối dày đặc u ám của súng đạn và máu me, nổi bật lên là những cảnh thiên nhiên say đắm lòng người, những trò đùa nghịch ngợm của tuổi trẻ và những giây phút ấm áp lòng nhân ái.

Kết cấu chuyện được xây dựng theo mạch : ra trận- trở về thăm gia đình- trở lại chiến trường- bị thương vào bệnh viện- chiến trường.

Sau khi có đủ trải nghiệm khủng khiếp sặc mùi máu ở chiến trường, nhân vật xưng Tôi về thăm nhà – trong tâm trạng áy náy với đồng đội nhưng lại háo hức được về lại với căn phòng chất đầy sách và người thân. Thế nhưng, cậu ước gì mình đừng bao giờ trở lại nhà. Tâm trạng của cậu bây giờ chẳng khác gì một nhà văn từng nói “Bạn trở về nhà thì nhà đã không tồn tại, chỉ còn đọng lại trong những xó xỉnh của ký ức mà thôi”.

Tôi bị thương phải vào bệnh viện. Ở đấy, cậu cảm nhận được cái chết và sự sống đang chiến đấu thật dữ dội chẳng khác gì ngoài mặt trận. Chính nơi ấy, độc giả sẽ hiểu sâu sắc hơn những gì mà tiểu thuyết gia người Mỹ Hemingway kể về nỗi đau sống sót của những thương binh trong truyện ngắn Ở Một Đất Nước Khác. Hay như triết gia Martha Nussbaum từng viết “người chiến binh hạnh phúc” khi lao vào trận chiến, không trông đợi điều gì ngoài đau đớn và có thể là cái chết, nhưng lại cảm thấy anh ta đang sống một cuộc sống tốt đẹp và có ý nghĩa. Đắng cay thay.

Chiến tranh đã giết tất cả- dù đó là người đang nằm trong cỗ quan tài dưới lớp đất sâu, là người vừa bị chết với đủ các tư thế mà chỉ có ai từng trải qua chiến tranh mới có thể mô tả lại, là người sống mà hồn đã chết.

Phía Tây Không Có Gì Lạ. Bản báo cáo tình hình mặt trận hôm ấy ngắn gọn đến hờ hững bởi vì thần chết ngày nào chẳng rình rập và thêm một kẻ chết có gì mới mẻ đâu. Chàng trai xưng Tôi đã chết, gương mặt anh thanh thản như đã đón chờ cái chết đến từ rất lâu rồi.

Tác giả vô cùng nhân đạo khi cho chàng trai trẻ ấy chết giữa mặt trận bởi vì dù có trở về với hòa bình thì tâm hồn của cậu cũng đã chết ở chiến trường với những đồng đội đã ngã xuống và những người ở nhà sẽ không bao giờ hiểu được nỗi ám ảnh chiến tranh khủng khiếp đến thế nào trong thân xác trẻ trung (tàn phế hay toàn vẹn) kia.

Đọc Phía Tây Không Có Gì Lạ, tôi nghĩ ngay tới Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh. Phải chăng Bảo Ninh đã nghiên cứu rất kỹ tác phẩm của tác giả người Đức này để viết ra kiệt tác kia cho văn học Việt Nam. Hai nhân vật chính đều là những chàng trai trẻ phải rời giảng đường lên đường nhập ngũ, trải qua những điều kinh khủng nhất giữa bom đạn khiến những kẻ có trái tim con người bỗng chốc bị vỡ tan. Bảo Ninh cho nhân vật của mình trở về nhưng anh ta phải vật lộn với một cuộc chiến đau đớn và dai dẳng trong suốt phần đời còn lại. Có lẽ, thà như Remarque lại nhân ái hơn Bảo Ninh.

Tác phẩm đã giúp Remarque giành giải thưởng Nobel Văn chương và Hòa bình năm 1931, và được chuyển thành phim đạt hai giải Oscar. Chừng ấy cũng đủ nói lên sự thành công vang dội của cuốn tiểu thuyết. Tác phẩm bị chính quyền Đức cấm đoán cũng bởi đây là tiếng nói dữ dội  nhất, chân thật nhất về nỗi đau mang tên Chiến Tranh.

Đây là một kiệt tác của văn học Đức và nhân loại về tiếng nói bi ai của người lính trong chiến tranh thế giới I.

4